Posted by: bsngoc | 04/09/2010

Giáo sư dỏm Trần Công Toại

Hôm nay thấy bên trang giaosudom.wordpress.com có một entry về PGS Trần Công Toại nên tôi phải viết vài hàng về nhân vật này. Ông Toại rất hách dịch ở đại học Phạm Ngọc Thạch vì ai cũng nghĩ ông ta là chuyên gia hàng đầu về gen và mô phôi. Nhưng theo Nikonian ông Toại chỉ là một giáo sư dỏm. Theo tôi, chẳng những dỏm mà còn nói láo. Trong bài báo dưới đây ông cho biết công trình nghiên cứu san hô của ông và GS Trương Đình Kiệt đã công bố trên tạp chí y khoa quốc tế, nhưng trong thực tế chẳng có bài nào cả. Đúng là nói láo không biết ngượng.

Chẳng những nói láo mà còn vô đạo đức. Thử hỏi trên thế giới này có ai xử dụng san hô để điều trị thoái hóa đốt sống trong khi sản phẩm chưa qua nghiên cứu hẳn hoi, chưa qua thử nghiệm lâm sàng. Theo tôi, đây là một hành động nguy hiểm của một tay giáo sư bất tài. Những kẻ bất tài và dỏm như ông Toại nhan nhản khắp nước. Y học VN cần phải loại bỏ những kẻ vô y đức như thế này.

bsngọc

Đây là bài báo trên mạng viết về “PGS” Trần Công Toại

Thiếu giác mạc: Không lo, đã có tế bào gốc!

Cập nhật lúc 10:18, Thứ Ba, 20/11/2007 (GMT+7)

(VietNamNet) TP.HCM vừa ứng dụng thành công liệu pháp tế bào gốc để chữa trị, phục hồi một phần thị lực cho bệnh nhân mắt… Triển vọng ứng dụng liệu pháp tế bào gốc trong điều trị bệnh mắt sẽ ra sao trong những năm sắp tới? TS-BS Trần Công Toại (TT Đào tạo Bồi dưỡng Cán bộ Y tế TP.HCM) đã có cuộc trao đổi với phóng viên VietNamNet xung quanh triển vọng này…

– Được biết, TP.HCM vừa ứng dụng thành công liệu pháp tế bào gốc để ghép kết mạc cho một bệnh nhân bị hỏng mắt đã 20 năm với sự hỗ trợ, giúp đỡ về mặt kỹ thuật của chuyên gia Nhật Bản. Ông có thể nói rõ hơn về sự hợp tác này?

-Sự giúp đỡ của tổ chức Takeda, Bệnh viện Ichikawa, Nhật Bản đã chuyển giao kỹ thuật nuôi cấy tế bào gốc niêm mạc miệng thành kết mạc để chữa trị cho người hỏng mắt. Nhật Bản là nước dẫn đầu về nghiên cứu, ứng dụng về tế bào gốc vùng rìa giác mạc.

Đây cũng là nước đi tiên phong và có nhiều thành công thực tiễn trong các ca ghép vùng rìa giác mạc điều trị các bệnh về mắt.

Mặt khác, trong năm 2006, bác sĩ Diệp Hữu Thắng, BV Mắt TP.HCM (người trực tiếp phẫu thuật ca bệnh này) và tôi đã có khóa học về tế bào gốc vùng rìa giác mạc ở Nhật Bản. Từ nhiều mối quan hệ có trước, những giáo sư giỏi, một số tổ chức, bệnh viện người Nhật đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ về kỹ thuật, chuyển giao công nghệ mà không phải chịu phí tổn.

Từ ca ghép kết mạc thành công này, có thể hy vọng người mù sẽ nhìn thấy ánh sáng và giảm bớt tình trạng thiếu giác mạc ở nước ta hiện nay hay không?

– Theo tôi, hoàn toàn có hy vọng. Tuy nhiên, chỉ có thể ở mức độ nhìn thấy sáng hơn, rõ hơn. Ví dụ, ca đầu tiên BV Mắt TP.HCM vừa thực hiện, bệnh nhân có thể nhìn thấy ở khoảng cách 1m, trước khi điều trị chỉ có thể phân biệt sáng tối. Để hoàn toàn hồi phục thị lực thì bệnh nhân cần được ghép giác mạc. Mức độ hồi phục bao nhiêu phần trăm còn tuỳ vào tình trạng bệnh lý (nguyên nhân gây bệnh, bệnh đã lâu hay chưa), giới tính, độ tuổi, chứ không nói chung chung được.

Trong tình trạng thiếu giác mạc thì đây là giải pháp tạm thời để bệnh nhân có thể nhìn được.

– Từ thành công nuôi cấy tế bào gốc vùng rìa giác mạc để tái tạo kết mạc, có thể dự tính tương lai chúng ta sẽ tái tạo được giác mạc hay không?

–  Phương pháp nuôi cấy, biệt hoá tế bào gốc vùng rìa giác mạc hiện nay đã thành công và phổ biến ở Nhật Bản từ 5 năm trước. Nhiều nước như Mỹ, Singapore, Úc, Hàn Quốc đã ứng dụng công nghệ này cũng chỉ vài năm lại đây. Được biết, Nhật Bản vẫn đang nghiên cứu phương pháp nuôi cấy biệt hoá tế bào gốc tái tạo giác mạc. Nếu diễn tiến tốt, dự trù khoảng 5 năm nữa phương pháp này sẽ được ứng dụng.

Nghiên cứu này rất quan trọng vì vấn đề thiếu giác mạc sẽ được giải quyết.

Hiện nay, không chỉ Việt Nam mà nhiều nước khác trên thế giới có chung tình trạng thiếu giác mạc thay thế cho người mù. Hơn nữa, việc dùng phương pháp tế bào gốc điều trị bệnh lý nói chung, tái tạo giác mạc nói riêng sẽ là phương pháp ghép tự thân, không phải lo về miễn dịch, tương hợp mô. Bệnh nhân cũng ít bị đau đớn hơn.

Ngân hàng mắt nhiều năm nay vẫn nằm trong vòng… dự tính, kế hoạch! Trong khi nhu cầu ghép giác mạc hiện nay rất lớn nhưng thiếu giác mạc để ghép… Tại sao lại như vậy?

– Ở các nước có ngân hàng giác mạc, họ đã có luật hiến tặng mô, tạng rất rõ. Ở Việt Nam, vào tháng 11/2006 có luật nhưng chưa có văn bản dưới luật để thực hiện. Chưa kể tới, điều luật này cũng đã cũ vì xây dựng từ 15 năm trước. Vì thế, chúng tôi phần nào bị động, ngần ngại khi thực hiện các phẫu thuật có liên quan vấn đề này.

Ngoài ra, còn có tình trạng kinh tế chưa đảm bảo. Thực tế hiện nay, xây dựng ngân hàng giác mạc sẽ cần sự kêu gọi, giúp đỡ nhiều phía: Từ các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước, cùng ý thức tự nguyện hiến giác mạc của người dân. Ở Mỹ, 64% người dân sẵn sàng hiến các cơ quan nội tạng của mình cho y học. Còn  ở Việt Nam việc này vẫn còn nhiều khó khăn xuất phát từ nếp nghĩ.

Về trang thiết bị, BV Mắt TP.HCM đã có đủ, nhiều năm nay vẫn luôn trong tư thế sẵn sàng. Ngoài ra, nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm cũng đã có mong muốn giúp đỡ. Việc ra đời ngân hàng giác mạc rất cần thiết để tránh thế bị động trong việc cần và thiếu giác mạc trầm trọng hiện nay. Chắc rằng trong thời gian gần đây, ngân hàng giác mạc sẽ ra đời.

Tuy nhiên, hy vọng rằng trong những năm tới đây khi khoa học đã thành công trong phương pháp nuôi cấy biệt hoá tế bào gốc tái tạo giác mạc thì áp lực thiếu giác mạc ghép cho người bệnh mắt sẽ được giảm nhẹ.

– Xin cảm ơn bác sĩ!

Vinh Giang (Thực hiện)

Thứ năm, 23 Tháng mười 2003, 08:26 GMT+7

Dùng san hô thay xương

Chiều 22-10, đề tài “Nghiên cứu sử dụng san hô vùng biển VN làm vật liệu thay xương trong y học”của TS-BS Trần Công Toại và GS-TS Trương Đình Kiệt đồng chủ nhiệm đã được hội đồng khoa học Sở Khoa học – công nghệ TP.HCM đánh giá xuất sắc.

Nhóm nghiên cứu cho biết đã lựa chọn được bốn loài san hô thuộc họ Poritidae để sử dụng trong nghiên cứu chế tạo vật liệu sinh học thay xương.

Ngoài việc thí nghiệm trên thỏ (ghép san hô vào đầu dưới xương đùi) và chó (ghép vào thân đốt sống lối sau bên), kết quả đề tài còn ứng dụng thành công cho người với số lượng187 ca ở các chuyên khoa răng – hàm – mặt, mắt (dùng bi san hô ghép tạo hình hốc mắt), cột sống (sử dụng san hô làm vật liệu tái tạo ống sống cổ) với thời gian theo dõi trung bình trên hai năm, giúp nâng cao chất lượng điều trị và giảm chi phí cho bệnh nhân…

QUỐC THANH

http://vietbao.vn/Suc-khoe/Benh-ve-xuong-dung-lo-da-co-san-ho/40007582/248/

Bệnh về xương: đừng lo, đã có san hô

Thứ tư, 05 Tháng mười một 2003, 07:15 GMT+7

Ứng dụng san hô VN làm vật liệu sinh học ghép trong y học – nghiên cứu của TS-BS Trần Công Toại (Ngân hàng Mô TP.HCM) và GS-TS Trương Đình Kiệt (ĐH Y dược TP.HCM) với kết quả ghép cho gần 200 bệnh nhân (BN) thuộc chuyên khoa mắt, cột sống, răng – hàm – mặt, đã mở ra triển vọng mới cho người bệnh. Những trường hợp nào thì cần được sử dụng san hô thay xương? BS Trần Công Toại cho biết:

– Trong các ca bị múc bỏ mắt: từ năm 1998, sản phẩm bắt đầu được đưa vào sử dụng tại BV Mắt TP.HCM. Tính đến nay bi san hô đã được sử dụng nhiều nhất với trên 100 ca. Với những BN không may bị tai nạn giao thông, đả thương hoặc bị bệnh phải múc bỏ mắt…, ngay sau khi múc mắt BS ghép một viên bi san hô vào bao củng mạc để tạo hình lại hốc mắt, giữ cơ nhãn cầu đúng vị trí, không bị teo. Sau khi lành, BS đặt mắt giả vào thì BN có thể liếc được.

Trong răng – hàm – mặt: khi nhổ răng, BS có thể ghép san hô cho đầy sống hàm, chống teo sống hàm để lúc làm răng giả đặt vào sẽ thuận lợi hơn. Trường hợp các chóp răng bị sâu, viêm, tạo những hốc gọi là nang chóp răng, khi điều trị phải nạo bỏ xương viêm và sẽ để lại một khoảng trống, muốn lành xương phải có vật liệu ghép. Trước đây phải dùng vật liệu HTR của Pháp rất đắt tiền. Nay sử dụng san hô VN chỉ sau khoảng ba tháng san hô được xương mọc vào thay thế, đồng hóa gần như bình thường.

Trong năm 2003 bắt đầu dùng san hô để tạo hình những phần khiếm khuyết xương cho BN bị tổn thương xương hàm, xương gò má, xương hốc mắt… Những BN này trước đây phải chấp nhận mặt bị móp, biến dạng do thiếu xương hoặc phải dùng ximăng, titanium rất đắt tiền và sau ghép không tự tiêu được.

Trong khi ghép vật liệu san hô vào ngoài việc tạo hình ban đầu, sẽ được thay thế dần bằng chính mô của cơ thể người đó. BS điều trị tạo những khung định hình trước trên BN bằng nhựa hoặc thạch cao, rồi dựa vào đó sẽ chế tạo mảnh san hô bằng kỹ thuật thủ công. Khoa phẫu thuật hàm mặt Viện Răng hàm mặt TP đã ghép cho sáu trường hợp như vậy.

Trong những bệnh lý gây chèn ép tủy do hẹp ống sống (do thoái hóa xương hoặc đĩa đệm, chèn ép vào lòng tủy): phương pháp điều trị là mở rộng ống sống, dùng san hô làm vật liệu ghép để làm rộng ống sống. BV Chấn thương chỉnh hình TP.HCM đã áp dụng cho 10 trường hợp, khoa ngoại thần kinh BV Chợ Rẫy thực hiện cho trên 30 ca.

+ BS có thể cho biết một số ứng dụng trong thời gian tới?

Nghiên cứu chế tạo san hô VN làm vật liệu ghép thay xương là nghiên cứu đầu tiên ở VN nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung trong lĩnh vực này.

Đề tài được bắt đầu từ khoảng 1994 với sự cộng tác của Viện Hải dương học Nha Trang và một số cơ quan khoa học khác.

Một phần kết quả nghiên cứu đã được công bố trong nước và quốc tế từ những năm 1997-1998.

Ngày 22-10-2003, đề tài được hội đồng khoa học Sở Khoa học & công nghệ TP.HCM thống nhất đánh giá đạt kết quả xuất sắc.

– Vật liệu san hô để chữa những bệnh lý cột sống sẽ được tiếp tục triển khai như: tái tạo bảng sống, tạo hình thân sống hoặc đĩa đệm. Sắp tới bộ môn cũng kết hợp với khoa chi trên BV Chấn thương chỉnh hình TP.HCM để ghép cho một số trường hợp mất xương ở vùng chi trên. Ngoài ra tùy BS lâm sàng có yêu cầu, có thể dùng san hô trong tạo hình những sàn sọ, hộp sọ…

Trong tương lai sẽ chế tạo ximăng sinh học từ san hô để điều trị một số bệnh lý chấn thương chỉnh hình như bơm vào những hốc xương bị thiếu hụt, kèm tạo hình tại chỗ cho những xương tổn thương mà không cần phải phẫu thuật mở rộng.

Ximăng dùng trong y học hiện khoảng 500 USD/5cc, có đặc điểm tồn tại vĩnh viễn nhưng về lâu dài có thể làm khuyết xương. Trong khi ximăng sinh học sẽ được thay thế dần để đến một thời điểm nào đó nó trở thành của chính cơ thể người đó.

Không như những vật liệu nhân tạo khác, đặc tính độc đáo của san hô Porites lutea là sau ghép một thời gian được cơ thể tiếp nhận, đồng hóa (san hô được xương mọc vào, thay thế) gần giống như xương bình thường.

Hiện chúng tôi đang tiếp tục nghiên cứu cấy tế bào nguyên bào sợi, nguyên bào xương vào san hô để tăng chất lượng sản phẩm ghép… Nói chung sẽ đi vào đa dạng hóa và chuyên sâu hóa các sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của tiến bộ khoa học kỹ thuật và y học.

KIM SƠN thực hiện

Việt Báo (Theo_TuoiTre)


Responses

  1. “Nhưng theo Nikonian ông Toại chỉ là một giáo sư dỏm.”

    Ủa, em đâu có ý kiến gì về ông này đâu bác?

  2. Nhận xét dỏm là của Nikonian bên giaosudom, không phải của Dr Nikonian bên drnikonian.com.


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Categories

%d bloggers like this: